Thương con dâu g/óa ch/ồng chưa kịp có con, bố chồng đã làm một việc khiến cả xã bà/ng ho/àng

Thương con dâu g/óa ch/ồng chưa kịp có con, bố chồng đã làm một việc khiến cả xã bà/ng ho/àng

Sau lễ tang của con trai, ông Bằng đột nhiên thay đổi. Ông ít nói, hay thức khuya, thỉnh thoảng lại nhìn con dâu – cô Mây mới 28 tuổi – với ánh mắt khó hiểu. Cả nhà bắt đầu xì xào. Có người nói ông thương con dâu quá sinh tình. Người khác lại nghi ông sắp làm điều sai trái để giữ cô lại bên mình.

Mây thì vẫn âm thầm chịu đựng. Từ ngày chồng mất, cô không còn là chính mình. Căn nhà ba gian ngày xưa đầy tiếng cười, giờ chỉ còn tiếng dép của người phụ nữ trẻ lặng lẽ bước qua bước lại giữa hai nén nhang lạnh. Không ai hỏi, cô cũng không kể. Duy chỉ có ánh mắt ông Bằng – ngày một trầm mặc – khiến cô đôi lần chột dạ.

Rồi một buổi trưa oi ả, ông Bằng gọi cô vào phòng. Cánh cửa đóng lại, mọi người nín thở.

Cánh cửa khép lại. Ngoài hiên, vài người họ hàng đứng nép sau hàng cau, tim đập thình thịch. Mấy bà trong xóm thì thào: “Chắc là… giữ con dâu lại làm dâu cả đời”, “Hay ông ấy nổi lòng tham, sợ mất người chăm hương khói cho con trai…”.

Trong phòng, ông Bằng ngồi xuống giường, rót hai chén nước.

“Mây… con ngồi đi.”

Mây đứng khép nép, tay siết chặt vạt áo. Cô đã chuẩn bị tinh thần cho đủ mọi lời cay nghiệt. Nhưng ông Bằng chỉ thở dài, giọng khàn đi:

“Cha xin lỗi vì mấy hôm nay ánh mắt của cha làm con khó chịu. Cha không biết an ủi con thế nào… Cha cũng mất con trai. Cha nhìn con mà nhớ nó, nên… cha tránh mặt không được.”

Ông mở ngăn tủ gỗ cũ, lấy ra một bọc vải đỏ. Bên trong là sổ đỏ mảnh đất cạnh chợ huyệnmột xấp tiền tiết kiệm.

“Đây là phần cha dành dụm cả đời. Cha sang tên mảnh đất này cho con. Tiền này con cầm lấy mà gây dựng cuộc sống. Con còn trẻ. Đừng chôn vùi tuổi xuân ở nhà này vì thương hại cha.”

Mây sững người, nước mắt trào ra.

“Nhưng… con là con dâu… con đi rồi ai thắp hương cho anh ấy?”

Ông Bằng lắc đầu:

“Hương khói là việc của người sống. Con trai cha nếu thương con, nó sẽ không muốn con ở lại đây chịu điều tiếng. Cha thà mang tiếng để con được tự do, còn hơn để con bị chôn vùi vì chữ ‘dâu góa’.”

Ông lấy từ trong túi áo ra một chiếc phong bì:

“Trong này là giấy xác nhận cha cho phép con tái giá, không ràng buộc nghĩa vụ thờ cúng. Cha đã nhờ trưởng thôn và ban hòa giải ký làm chứng. Từ hôm nay, con không còn nợ nhà này điều gì nữa.”

Mây òa khóc, quỳ xuống lạy ông:

“Con không đi vì bị ép… Con đi vì cha thương con. Con đội ơn cha suốt đời.”

Chiều hôm đó, ông Bằng tự tay dẫn Mây ra cổng, trao sổ đỏ cho trưởng thôn làm chứng trước mặt cả xóm. Tin lan nhanh như gió. Những lời đồn độc địa lập tức tắt ngấm. Cả làng bàng hoàng vì không ngờ người cha chồng góa vợ, nghèo khó ấy lại chọn chịu điều tiếng để trả tự do cho con dâu.

Vài năm sau, Mây có gia đình mới, cuộc sống yên ổn. Mỗi dịp giỗ chồng cũ, cô vẫn quay về thắp hương, biếu ông Bằng ít quà. Ông chỉ cười hiền:

“Con sống hạnh phúc là cha yên lòng. Người đã khuất không cần nước mắt của con, chỉ cần con sống tử tế.”

Cả xóm sau này nhắc đến ông Bằng, không còn ai dám nói lời xấu. Người ta gọi ông bằng một cái tên rất giản dị mà ấm áp:
“Ông bố chồng tử tế nhất làng.”