Chuẩn b/ị 100 mâm cỗ linh đình, thiệp cưới phát khắp làng, nhưng đến giờ đón khách, sân cưới vẫn vắn/g tanh. Không một ai xuất hiện. Khi gia đình bàng hoàng chạy đi hỏi, lời đáp của hàng xóm khiến cô dâu chú rể chỉ biết cúi gằm mặt vì x//ấu hổ…

Chuẩn b/ị 100 mâm cỗ linh đình, thiệp cưới phát khắp làng, nhưng đến giờ đón khách, sân cưới vẫn vắn/g tanh. Không một ai xuất hiện. Khi gia đình bàng hoàng chạy đi hỏi, lời đáp của hàng xóm khiến cô dâu chú rể chỉ biết cúi gằm mặt vì x//ấu hổ…

Nếu có ai hỏi tôi nỗ/i n//hục lớn nhất cuộc đời là gì, tôi sẽ không cần suy nghĩ mà trả lời ngay: đó chính là ngày cưới của mình. Ngày lẽ ra phải ngập tràn tiếng cười, lời chúc phúc và hạnh phúc, lại trở thành ký ức đau đớn nhất mà đến tận bây giờ, mỗi khi nhớ lại, tim tôi vẫn nhói lên…

Một ngày mà lẽ ra phải là ngày vui nhất, đông đủ nhất… lại trở thành ký ức khiến tôi chỉ muốn quên đi.

Tôi sinh ra và lớn lên ở một làng quê nhỏ. Ở đó, mọi người sống gần nhau, biết rõ từng chuyện của nhau. Một đám cưới không chỉ là chuyện của hai gia đình, mà gần như là sự kiện của cả làng.

Vì vậy, khi tôi chuẩn bị cưới, bố mẹ tôi đã quyết định làm thật lớn.
“Một đời người có một lần, phải cho nở mày nở mặt.”

Bố tôi nói vậy.

Gia đình tôi không giàu, nhưng bố mẹ luôn sĩ diện. Họ vay mượn thêm để tổ chức cho “bằng người ta”.

100 mâm cỗ.

Con số đó khiến tôi vừa tự hào, vừa lo lắng.


Tôi đã từng nói:

Có thể là hình ảnh về đám cưới



“Hay mình làm vừa thôi bố mẹ, đỡ tốn kém…”

Mẹ tôi gạt đi:

“Con không hiểu đâu. Cả làng người ta nhìn vào.”

Thiệp cưới được phát đi khắp nơi.

Không chỉ họ hàng, mà gần như toàn bộ người trong làng đều được mời.

Ai nhận thiệp cũng cười nói:

“Nhất định sẽ đến.” …Thế nhưng tới ngày ăn tiệc thì một sự thật bất ngờ…

Thế nhưng tới ngày ăn tiệc, một sự thật bất ngờ bóp nghẹt lấy lồng ngực chúng tôi.

11 giờ trưa. Giờ cử hành hôn lễ đã điểm.

Sân cưới trống hoác, chỉ có tiếng gió lùa làm những dải lụa hồng bay phần phật. 100 mâm cỗ linh đình với đủ món cao lương mỹ vị đã dọn sẵn trên bàn, khói nghi ngút rồi lịm dần, nguội ngắt. Các mẹ, các chị trong đội hậu cần đứng khoanh tay nhìn nhau, không khí im lặng đến rợn người.

Bố mẹ tôi đứng ngồi không yên, mồ hôi vã ra như tắm. Cứ mỗi năm phút, bố lại chạy ra cổng ngóng, nhưng con đường làng tuyệt nhiên không một bóng người. Mẹ tôi tay run run bấm điện thoại gọi cho mấy người họ hàng thân thiết, nhưng đầu dây bên kia chỉ là những tiếng tút dài vô vọng, hoặc có người bắt máy thì vội vã từ chối: “Ờ… nhà tôi bận tí việc đột xuất, không qua được nhé!” rồi cúp rụp.

12 giờ trưa. Vẫn không một ai xuất hiện. 100 mâm cỗ ế dài, phơi mình dưới cái nắng trưa. Tôi nhìn chiếc váy cưới lộng lẫy mình đang mặc, rồi nhìn sang chồng mình, cả hai cay đắng đến trào nước mắt. Sự háo hức, niềm tự hào ban sáng giờ biến thành một nỗi nhục nhã ê chề.

Không thể chịu đựng thêm sự tra tấn này, bố tôi và chồng tôi quyết định chạy thẳng sang nhà trưởng thôn và mấy hộ hàng xóm sát vách để hỏi cho ra lẽ. Tôi và mẹ cũng lật đật chạy theo sau.

Vừa đến đầu ngõ nhà bác trưởng thôn, chúng tôi sững sờ khi thấy rất đông người làng đang tụ tập ở đó, trò chuyện rôm rả. Thấy gia đình tôi ăn mặc chỉnh tề, mặt mày thất thần lao đến, tiếng cười nói lập tức im bặt.

Bố tôi, giọng vừa nghẹn ngào vừa tức giận, lên tiếng: “Bác trưởng thôn, thưa các ông các bà… Gia đình tôi có tội tình gì với làng xóm mâm cao cỗ đầy mời thỉnh đàng hoàng, mà giờ cưới cháu, không một ai thèm đặt chân đến là sao?”

Bác trưởng thôn nhìn bố tôi, thở dài một tiếng đầy ngao ngán. Bác buông điếu cày xuống, chậm rãi nói: “Ông Thắng ạ, không phải dân làng cạn tình cạn nghĩa. Mà là do cái ‘sĩ diện’ và sự tính toán của nhà ông làm người ta tự ái quá rồi.”

Mẹ tôi lớn tiếng: “Kìa bác, nhà tôi làm cỗ to, mời cả làng ăn ngon chứ có để ai chịu thiệt đâu?”

Lúc này, một bác hàng xóm vốn tính thẳng thắn liền đứng bật dậy, chỉ tay nói thẳng:

“Mời ăn ngon? Các người mời ăn cưới hay đi đòi nợ? Đám cưới đứa lớn cách đây hai năm, người ta bận việc không đi được, gửi tiền mừng năm trăm nghìn. Thế mà bà đi rêu rao khắp chợ là người ta ‘ăn quỵt’, đi cưới nhà người ta hẳn một triệu mà người ta trả lễ có một nửa! Rồi đến lượt đứa này, bà đi phát thiệp mà cứ bóng gió nói cỗ nhà tôi đặt mâm mười triệu, người làng đi mừng nhớ biết ý mà đi cho xứng tầm. Người ta đi ăn cưới để chúc phúc, chứ không phải để nộp tiền mua cỗ cho nhà bà lấy oai!”

Lời bác hàng xóm như một gáo nước lạnh dội thẳng vào mặt gia đình tôi. Tôi quay sang nhìn mẹ, mẹ tôi mặt cắt không còn giọt máu, cứng họng không cãi được lời nào.

Chưa dừng lại ở đó, bác trưởng thôn tiếp lời, giọng buồn bã: “Ông bà xem lại đi. Quanh năm suốt tháng trong làng có việc hiếu hỉ, ông bà bận giàu bận sang có mấy khi hạ mình đến chung vui với ai? Người ta mời thì ông bà gửi tiền cho qua chuyện, có khi còn chê đám cưới nhà quê nghèo nàn, bụi bặm. Sống ở làng mà tách biệt, ích kỷ, chỉ muốn người ta cung phụng, làm đẹp mặt mình, thì lúc mình cần, ai người ta đến?”

Từng câu, từng chữ của người làng như những nhát dao đâm thẳng vào sự ích kỷ, sĩ diện hão huyền của bố mẹ tôi. Tôi và chồng cúi gắm mặt xuống đất, nhục nhã đến mức chỉ muốn có một cái lỗ để chui xuống.

Hóa ra, cái gọi là “100 mâm cỗ nở mày nở mặt” trong mắt bố mẹ tôi, lại là một sự xúc phạm đối với tình làng nghĩa xóm. Sự tính toán chi ly, thói khinh người và lòng kiêu ngạo của gia đình bấy lâu nay đã tự dựng lên một bức tường ngăn cách với tất cả mọi người. Để rồi ngày hôm nay, quả báo đến theo cách cay đắng nhất.

Chúng tôi lầm lũi đi bộ về nhà. Ngôi nhà bạt cưới rực rỡ giờ trông giống như một trò hề nực nội. Bố mẹ tôi ngồi sụp xuống nền đất, khóc không thành tiếng trước 100 mâm cỗ vô tri. Đám cưới trong mơ của tôi đã diễn ra như thế đó: không tiếng cười, không lời chúc, chỉ có bài học đắt giá về tình người và cái giá phải trả cho hai chữ “sĩ diện”.