Người ta thường bảo “khác m//áu ta//nh lò/ng”, mối quan hệ bố chồng nàng dâu xưa nay hiếm khi nào hòa hợp hoàn hảo. Thế nhưng, suốt 12 năm làm dâu, tôi chưa một lần để ý đến những định kiến đó. Đối với tôi, ông không chỉ là bố của chồng, mà từ lâu đã là người cha ru/ột thứ hai trong cuộc đời.
Người ta thường bảo “khác m//áu ta//nh lò/ng”, mối quan hệ bố chồng nàng dâu xưa nay hiếm khi nào hòa hợp hoàn hảo. Thế nhưng, suốt 12 năm làm dâu, tôi chưa một lần để ý đến những định kiến đó. Đối với tôi, ông không chỉ là bố của chồng, mà từ lâu đã là người cha ru/ột thứ hai trong cuộc đời.
Bố chồng tôi, ông năm nay đã bước sang tuổi 78, sức khỏe yếu dần sau trận tai biế//n hai năm trước. Ông vốn là một nông dân thuần túy, cả đời bán mặt cho đất bán lưng cho trời để nuôi bốn người con khôn lớn. Khi về già, ông không có một đồng lương hưu, không có bảo hiểm, tài sản duy nhất chỉ là căn nhà cấp bốn cũ kỹ nằm sâu trong con ngõ nhỏ ở ngoại ô và một mảnh vườn nhỏ trồng rau.
Khi các con trưởng thành, ai cũng chọn cho mình một hướng đi riêng. Hai người anh trai lớn của chồng tôi lập nghiệp trên thành phố, cưới vợ giàu rồi cuốn theo vòng xoáy của tiền tài, danh vọng. Cả năm, họ chỉ tạt qua nhà vào ngày mùng Một Tết, biếu bố vài triệu đồng coi như xong nghĩa vụ rồi lại vội vã lên xe hoa lệ ra về. Cô con gái út – em chồng tôi – thì lấy chồng xa tận trong Nam, ba bốn năm mới sắp xếp về thăm quê được một lần. Những cuộc gọi điện thoại thưa thớt dần theo thời gian, chỉ còn lại những lời hỏi thăm xã giao chiếu lệ.
Chỉ có vợ chồng tôi – đứa con trai thứ ba vốn không có tiền tài địa vị – chọn ở lại mảnh đất quê hương này. Chồng tôi làm công nhân cơ khí, lương ba cọc ba đồng, còn tôi mở một sạp tạp hóa nhỏ ngay đầu ngõ. Khi bố chồng bắt đầu đổ bệnh, những người con khác đùn đẩy trách nhiệm. Người thì bảo bận dự án, người thì kêu con cái học hành hành chính, họ bàn nhau góp mỗi tháng vài trăm nghìn để thuê người ngoài chăm ông.
Nhìn ánh mắt buồn bã, bất lực của bố ngồi bất động trên chiếc xe lăn, tôi không kìm được nước mắt. Tôi bảo với chồng:
“Thôi, tiền thuê người ngoài vừa tốn kém lại chẳng ai chu đáo bằng người nhà. Để em vừa bán hàng vừa chăm bố.”
Và thế là, suốt 12 năm ròng rã, một tay tôi lo liệu từ bữa ăn, giấc ngủ, đến việc tắm rửa, giặt giũ quần áo bốc mùi thuốc cho ông. Những đêm đông lạnh giá, bố đau nhức xương khớp không ngủ được, tôi lại thức trắng để xoa bóp cho ông. Ai nhìn vào cũng lắc đầu bảo tôi dại, ôm rơm rặm bụng, bố chồng chứ có phải bố đẻ đâu mà cung phụng, sau này ông mất đi thì cũng chẳng xơ múi được gì. Nhưng tôi chỉ cười. Tôi chăm ông bằng cái tâm của một người con, bằng sự biết ơn vì ông đã sinh thành và nuôi dưỡng người đàn ông đang chung chăn gối với mình.
Thế rồi, ngày mà chúng tôi lo sợ nhất cũng đã đến. Sau một đêm trở trời, bố chồng tôi than/h thả/n trút hơi t/hở cuối cùng trên chiếc giường quen thuộc. Cái ch//ết của ông như một hồi chuông tập hợp đầy đủ những đứa con xa xứ.
Nhưng, điều khiến tôi đau lòng nhất là trong khi đá/m tan/g còn chưa cử hàn/h xong, thì những tiếng xì xào, bàn tán về vật chất đã bắt đầu râm ran ở góc sân.
Hai người chị dâu phố thị diện những bộ đồ tang sang trọng nhưng ánh mắt thì không ngừng soi mói vào hòm công đức. Người em chồng từ miền Nam bay ra, vừa lau nước mắt vừa nhỏ to với anh cả:
“Anh xem tính toán tiền phúng điếu thế nào, chứ chuyến này em bay ra bay vào tốn kém quá, tiền vé máy bay cũng mất cả chục triệu rồi.”
Cảnh tượng ấy thật nực cười và xót xa. Suốt 12 năm ông nằm liệt giường, không một ai hỏi ông có đau không, có thèm ăn gì không. Vậy mà khi ông nằm xuống, thứ họ quan tâm đầu tiên lại là số tiền phúng điếu của làng xóm và căn nhà cấp bốn cùng mảnh vườn mà vợ chồng tôi đang ở.
Ngay sau đêm h//ạ huy/ệt, khi khách khứa đã vãn, bốn gia đình ngồi quây quần lại giữa phòng khách. Anh cả hắng giọng, mở lời trước:
“Bố m//ất rồi, giờ là lúc anh em mình ngồi lại giải quyết chuyện tài sản. Tiền phúng điếu sau khi trừ chi phí đám ta/ng thì chia đều làm bốn. Còn căn nhà và mảnh đất này, tuy cũ nhưng bây giờ đất ngoại ô đang lên giá, bán đi cũng phải được vài tỷ. Chia đều cho bốn anh em là hợp lý nhất.”
Chồng tôi ngồi cúi đầu, hai bàn tay đan chặt vào nhau vì uất nghẹn nhưng không biết phải nói gì. Tôi nhìn những gương mặt tha/m lam, íc/h kỷ kia mà lòng lạnh ngắt. Suốt 12 năm qua, căn nhà này đã được vợ chồng tôi sửa sang, cơi nới để bố nằm cho thoải mái. Giờ đây, họ muốn bán sạch để chia chác.
Đúng lúc bầu không khí đang căng thẳng như sợi dây đàn, ông trưởng họ bước vào, trên tay cầm một chiếc hộp gỗ cũ kỹ bám đầy bụi thời gian. Ông nghiêm giọng nói:
“Trước khi mất một tháng, cụ đã nhờ tôi lập di chúc và giữ chiếc hộp này. Cụ dặn sau khi hoàn tất hậu sự thì mở ra trước mặt tất cả các con.”
Cả căn phòng lập tức im phăng phắc. Hai người anh trai và cô em út mắt sáng lên, hồi hộp chờ đợi. Ông trưởng họ chậm rãi mở tờ giấy di chúc có dấu xác nhận của chính quyền địa phương và đọc lớn.
“…Toàn bộ căn nhà, mảnh đất vườn và số tiền tiết kiệm 500 triệu đồng trong sổ ngân hàng, tôi xin để lại toàn bộ cho con dâu thứ ba – Nguyễn Thị Linh. Các con trai và con gái khác không được phép can thiệp hay tranh chấp.”
Cả phòng khách như n//ổ tung. Hai người chị dâu đứng bật dậy, mặt đỏ gay gắt:
“Không thể như thế được! Con dâu là người ngoài, sao lại được hưởng toàn bộ tài sản? Có sự nhầm lẫn hoặc ép buộc gì ở đây không?”
Anh cả cũng đập bàn:
“Bố bị lẫ/n rồi! Chúng tôi là con ru/ột, tại sao lại không có phần?”
Ông trưởng họ không nói gì, chỉ lặng lẽ lấy ra từ trong hộp một bức thư tay đã ố vàng, mực có chỗ đã nhòe đi vì nước mắt. “Đây là thư cụ để lại cho các anh chị. Hãy tự mình đọc đi.”
Chồng tôi đón lấy bức thư, run rẩy đọc thành tiếng cho cả nhà cùng nghe…
Giọng chồng tôi nghẹn lại, từng lời chữ của bố hiện lên, mộc mạc mà như từng nhát dao cứa vào lòng những kẻ làm con ích kỷ:
“Gửi các con của bố,
Khi các con đọc được những dòng này, có lẽ bố đã về bên mẹ các con rồi. Cả cuộc đời bố bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, điều tự hào nhất là nuôi được bốn anh em các con khôn lớn, thành người. Nhưng bố cũng cay đắng nhận ra, tiền tài và danh vọng trên thành phố đã mang các con đi quá xa vòng tay của bố.
Anh cả, anh hai, cô út… Suốt 12 năm bố nằm liệt một chỗ, số lần các con về thăm bố chỉ đếm trên đầu ngón tay. Các con nghĩ bố cần vài triệu đồng các con ném lại ngày Tết sao? Không, bố cần các con, cần một lời hỏi thăm, một chén trà nóng. Nhưng các con bận, bận đến mức quên cả ngày giỗ mẹ, bận đến mức đùn đẩy việc chăm sóc bố cho người ngoài.
Chỉ có cái Linh – đứa con dâu mà người đời gọi là ‘khác máu tanh lòng’ – là người duy nhất ở lại. 12 năm qua, nó chưa từng một lời than vãn. Nó thay các con rửa chân, lau người, thức trắng đêm xoa bóp cho bố mỗi khi trái gió trở trời. Nó chăm bố bằng cả tấm lòng hiếu thảo của một đứa con ruột, thứ mà các con ruột của bố đã đánh mất từ lâu.
Số tiền 500 triệu trong sổ tiết kiệm là tiền đền bù một góc đất vườn năm xưa bố giấu các con, âm thầm nhờ cái Linh đứng tên gửi ngân hàng để phòng lúc bố lâm bệnh nặng. Nhưng nó chẳng thèm động vào một đồng, vẫn tự bỏ tiền túi ra mua từng viên thuốc, cân yến cho bố. Tài sản này, đất đai này, vốn dĩ là để trả ơn cho lòng hiếu thảo của nó. Các con có tiền tài, có nhà lầu xe hơi ở phố thị, nhưng các con đã mất đi cái tâm làm người rồi. Đừng trách bố cạn tình, hãy tự hỏi lại bản thân mình đã làm tròn chữ hiếu hay chưa.”
Giọng chồng tôi dứt hẳn, cả căn phòng rơi vào một sự im lặng đáng sợ.

Hai người chị dâu vừa rồi còn ghê gớm đập bàn, giờ đây mặt cắt không còn một giọt máu, lầm lũi cúi đầu. Anh cả và anh hai nhìn trân trân vào bức thư tay của bố, đôi bàn tay run rẩy, những gương mặt thành đạt, bóng bẩy thường ngày giờ đây tràn ngập sự nhục nhã và ê chề. Cô em út từ miền Nam ra, nghe đến đoạn bố nhắc về những chén trà, những lần đau ốm bèn gục mặt xuống bàn khóc nức nở. Hóa ra, ông cụ không hề lú lẫn. Ông tỉnh táo hơn ai hết, ông nhìn thấu sự lạnh lẽo của những đứa con ruột và sự hy sinh thầm lặng của đứa con dâu.
Chồng tôi ôm chặt lấy chiếc hộp gỗ vào lòng, nước mắt lăn dài trên má. Anh nhìn các anh em của mình, giọng khàn đặc nhưng đanh thép:
“Tiền phúng điếu, vợ chồng tôi không thèm lấy một đồng, các anh chị cứ chia nhau mà bù tiền vé máy bay, tiền xe cộ. Nhưng còn căn nhà và mảnh đất này, là di nguyện cuối cùng của bố. Từ nay về sau, ai muốn bước chân vào đây thắp cho bố một nén hương, chúng tôi sẵn sàng mở cửa đón tiếp. Nhưng nếu ai còn mở mồm ra đòi chia chác đất đai, thì đừng trách tôi không nể tình máu mủ!”
Chẳng ai bảo ai, hai người anh và cô em út lặng lẽ thu dọn hành lý, lên xe ra về ngay trong đêm, không dám nhìn thẳng vào mắt vợ chồng tôi thêm một lần nào nữa.
Khi mọi người đã đi hết, tôi bước đến bên bàn thờ, thắp lên ba nén hương cho bố. Nhìn nụ cười hiền hậu của ông trong bức di ảnh ngút ngàn khói hương, nước mắt tôi khẽ rơi, nhưng lòng lại nhẹ nhõm đến lạ kỳ. 12 năm cung phụng, tôi chưa bao giờ mưu cầu một mét đất hay một đồng tiền thừa kế. Nhưng sự công tâm và tình thương của bố trước khi đi đã cho tôi hiểu một điều:
Tình thân thực sự không nằm ở giọt máu cắt đôi, mà nằm ở sự chân thành, thấu hiểu và cách chúng ta đối đãi với nhau bằng cái tâm trong sạch nhất. Bố đã đi rồi, nhưng hơi ấm và bài học làm người của ông sẽ mãi ở lại trong căn nhà này, bảo bọc cho mẹ con tôi suốt những tháng ngày giông bão phía trước.