Ngày mẹ tôi đưa cậu bé m//ồ côi lang thang trước cổng chợ về nuôi, cả họ hàng đều ra sức ngăn cản, m/ỉa mai/ rằng bà đang “rước thêm gánh nặng” vào nhà
Ngày mẹ tôi đưa cậu bé m//ồ côi lang thang trước cổng chợ về nuôi, cả họ hàng đều ra sức ngăn cản, m/ỉa mai/ rằng bà đang “rước thêm gánh nặng” vào nhà. Thế nhưng mẹ chỉ cười: “Còn sống là còn có cơ hội đổi đời.” Vài năm sau, cậu bé bất ngờ lặng lẽ rời đi, không để lại một lời từ biệt, khiến ai cũng ch/ê trách mẹ vì đã đặt lòng tốt nhầm chỗ. Nhiều năm trôi qua, khi mẹ lâ/m bệ/nh nặng, gia đình tôi kiệ/t quệ vì nợ viện phí, một chiếc xe sang bất ngờ dừng trước cổng bệnh viện. Người đàn ông bước xuống chính là cậu bé năm nào… Và hành động đầu tiên của anh khiến tất cả những người từng coi thường mẹ tôi đều lặng người x//ấu hổ…
Ngày cậu bé lang thang m-ồ c-ôi trước cổng chợ được mẹ tôi đưa về nuôi, họ hàng đều phản đối. Người thì lắc đầu, người thì thở dài, có người nói thẳng rằng mẹ tôi “rước g-ánh nặng vào nhà”, rằng gia đình vốn đã không khá giả, nuôi thêm một đứa không ruột rà rồi sau này cũng chẳng được nhờ. Tôi khi ấy còn nhỏ, chỉ nhớ loáng thoáng buổi chiều hôm đó, trời đổ mưa lất phất, cậu bé đứng nép dưới mái hiên, người ướt sũng, đôi mắt vừa cảnh giác vừa mệt m-ỏi. Mẹ tôi nhìn cậu rất lâu, rồi chỉ nói một câu giản dị: “Về nhà với bác, tắm rửa rồi ăn cơm.”
Cậu bé ít nói, lúc nào cũng dè dặt. Mẹ đặt cho cậu cái tên mới để dễ gọi, bảo rằng “từ nay là người nhà rồi, phải có tên đàng hoàng.” Những ngày đầu, cậu không dám ăn cùng mâm, cứ lảng ra sau bếp, đợi mọi người ăn xong mới dám lại gần. Mẹ phải kéo cậu vào, gắp thức ăn cho, nói nhẹ nhàng: “Ở đây không ai bỏ đó-i con đâu.” Tôi thấy cậu ăn rất nhanh, như sợ ai đó giành mất, nhưng rồi dần dần cũng quen, ánh mắt bớt đề phòng hơn.
Nhà tôi khi ấy không dư dả. Ba làm nghề lao động tự do, mẹ b-uôn b-án nhỏ, tôi còn đang đi học. Thêm một miệng ăn là thêm nhiều lo toan. Nhưng mẹ chưa bao giờ than thở. Cậu bé được cho đi học cùng tôi, ban đầu chậm chạp vì bỏ lỡ nhiều năm, nhưng lại chăm chỉ đến lạ. Có những đêm tôi ngủ dậy uống nước, thấy cậu vẫn ngồi dưới ánh đèn vàng, cặm cụi viết từng dòng chữ ngu-ệch n-goạc.
Họ hàng mỗi lần ghé chơi đều nhắc lại chuyện cũ. “Nuôi nó rồi sau này nó bỏ đi thì sao?”, “Biết đâu nó ăn c-ắp gì đó thì phiền”, “Con nhà không rõ gốc gác, nuôi làm gì cho mệt.” Mẹ chỉ cười, không tranh cãi. Sau mỗi lần như vậy, tôi thấy cậu bé lại lặng đi, làm việc nhiều hơn, nói ít hơn. Có lần tôi hỏi, cậu chỉ nói: “Tớ sẽ cố để không ai phải hối hận.”
Thời gian trôi qua, cậu lớn lên cùng chúng tôi, không còn là đứa bé r-ách rưới ngày nào nữa. Cậu biết phụ mẹ b-án hàng, biết sửa lại những đồ đạc hỏng trong nhà, biết nhường nhịn tôi từng chút một. Có những ngày trời mưa, đường lầy lội, cậu vẫn đi bộ rất xa để mua đồ giúp mẹ. Mẹ thường nhìn cậu bằng ánh mắt dịu dàng, như thể mọi mệt nhọc đều đáng giá.
Rồi một ngày, khi tôi vừa bước vào năm học mới, cậu biến mất.
Không một lời báo trước, không để lại tin nhắn hay dấu vết gì. Sáng hôm đó, mẹ gọi mãi không thấy cậu, tưởng cậu đi đâu sớm. Nhưng đến trưa, đến chiều, vẫn không thấy về. Quần áo của cậu vẫn còn đó, chỉ thiếu vài bộ đơn giản. Mẹ lặng đi rất lâu, rồi ngồi thẫn thờ trước hiên.
Họ hàng biết chuyện, lại bắt đầu xì xào. “Thấy chưa, nuôi nó có được gì đâu”, “Công sức bao năm đổ sông đổ biển”, “Đúng là nuôi ong tay áo.” Những lời đó như những mũi ki-m chích vào không khí vốn đã nặng nề. Tôi giận, nhưng không biết gi-ận ai. Giận cậu vì đã bỏ đi, hay gi-ận những người đang chỉ trích mẹ.
Mẹ không nói gì. Bà chỉ thở dài, rồi tiếp tục công việc như thường. Nhưng tôi biết, mỗi bữa ăn, mẹ vẫn để thừa một phần, như thể chờ ai đó quay về. Những ngày sau đó, ngôi nhà trở nên trống trải hơn hẳn.
Năm tháng trôi qua, cuộc sống cuốn mọi người đi. Tôi lớn lên, bận rộn với việc học rồi đi làm. Câu chuyện về cậu bé năm nào dần trở thành một ký ức cũ, thỉnh thoảng được nhắc lại trong những buổi họp mặt gia đình như một ví dụ về “lòng tốt đặt nhầm chỗ”.
Cho đến khi mẹ tôi đổ b-ệnh…
Mẹ bị chẩn đoán mắc căn bệnh hiểm nghèo, cần phải phẫu thuật gấp. Chi phí điều trị như một ngọn núi khổng lồ đè nặng lên gia đình vốn đã chẳng dư dả gì của chúng tôi. Ba tôi già yếu, tóc bạc trắng sau vài đêm thức trắng, còn tôi thì chạy vạy khắp nơi, vay mượn từ bạn bè đến đồng nghiệp nhưng chẳng thấm tháp vào đâu.
Trớ trêu thay, những người họ hàng năm xưa từng lớn tiếng dạy đời mẹ tôi về “lòng tốt”, nay thấy nhà tôi gặp nạn thì đều tìm cách né tránh. Người khóa cửa vờ đi vắng, người than nghèo kể khổ, có người còn nói thẳng: “Đấy, ngày xưa bảo tích cóp phòng thân thì không nghe, cứ đâm đầu vào làm việc bao đồng, giờ khổ chưa?”
Giữa lúc cả gia đình tuyệt vọng nhất, hạn nộp viện phí cuối cùng đã cận kề, tôi ngồi thụp xuống hành lang bệnh viện, hai tay ôm đầu bất lực.
Đúng lúc đó, một chiếc xe sang trọng, bóng loáng bất ngờ rẽ vào và dừng ngay trước sảnh bệnh viện tai mũi họng – nơi có khuôn viên nhìn ra phòng bệnh của mẹ. Sự xuất hiện của chiếc xe thu hút ánh nhìn của không ít người, trong đó có cả vài người họ hàng của tôi vừa đến để… “thăm hỏi lấy lệ”.
Cửa xe mở ra. Một người đàn ông cao lớn, mặc bộ vest lịch lãm bước xuống. Dù thời gian đã làm thay đổi vóc dáng và đường nét, nhưng đôi mắt kiên định, có phần trầm mặc ấy thì tôi không bao giờ quên được.
Là cậu ấy. Cậu bé lang thang năm nào.
Cậu ấy không đi một mình, đi phía sau là hai trợ lý và một vị bác sĩ trưởng khoa đầu ngành mà gia đình tôi từng cố gắng đặt lịch hẹn nhưng bất thành. Trái với sự ngỡ ngàng của tôi và thái độ dò xét, xầm xì từ những người họ hàng, cậu ấy không hề liếc nhìn họ lấy một cái. Ánh mắt cậu ấy quét nhanh qua dãy hành lang, rồi dừng lại ở dáng vẻ gầy gò, khắc khổ của ba tôi và tôi.
Hành động đầu tiên của cậu ấy khiến tất cả những người có mặt ở đó đều lặng người xấu hổ.
Cậu ấy bước nhanh tới, không một chút ngần ngại, quỳ rạp cả hai gối xuống nền gạch đá hoa lạnh lẽo của bệnh viện ngay trước mặt ba tôi. Cậu ấy cúi đầu, giọng run run nhưng vang rõ mồn một:
“Ba… Con trai về muộn. Con xin lỗi vì đã để ba mẹ và em phải khổ thế này!”
Hóa ra, ngày cậu bỏ đi không lời từ biệt năm xưa không phải vì phản bội hay vô ơn. Cậu nhận ra sự hiện diện của mình là cái cớ để họ hàng mỉa mai mẹ, và gánh nặng tài chính của gia đình ngày một lớn. Cậu chọn cách ra đi, theo một người quen cũ bươn chải nơi đất khách quê người, thề rằng nếu chưa thành người sẽ không quay về làm bận lòng mẹ. Những năm qua, cậu lao vào làm việc như thiêu như đốt, từ một công nhân bốc vác trở thành chủ một doanh nghiệp phân phối lớn. Cậu vẫn luôn âm thầm dõi theo gia đình, và ngay khi biết tin mẹ đổ bệnh, cậu đã bỏ lại tất cả công việc để bay về ngay trong đêm.

Cậu đứng dậy, đỡ ba tôi lúc này đã nghẹn ngào không thốt nên lời. Cậu quay sang đưa mắt ra hiệu cho người trợ lý. Người trợ lý lập tức tiến lại gần, cầm trên tay một xấp biên lai dày:
“Thưa bác, toàn bộ chi phí phẫu thuật, điều trị hóa trị và phòng hồi sức VIP của bác gái đã được tổng giám đốc thanh toán trọn gói cho đến khi xuất viện. Bác sĩ trưởng khoa đây cũng sẽ là người trực tiếp phụ trách ca mổ của bác gái ạ.”
Nhìn sấp hóa đơn đã đóng dấu “Đã thu tiền” với con số lên đến hàng trăm triệu, rồi nhìn vị bác sĩ đáng kính đang gật đầu chào, những người họ hàng từng mỉa mai mẹ tôi “nuôi ong tay áo” đều tái mét mặt mày. Họ lảng dần ra xa, không ai dám ho một tiếng, những khuôn mặt thích phán xét giờ đây chỉ còn sự ngượng ngùng và nhục nhã ê chề.
Cậu ấy bước vào phòng bệnh, nhẹ nhàng nắm lấy bàn tay gầy gò, chằng chịt vết kim truyền của mẹ. Mẹ từ từ mở mắt, nhìn thấy cậu, khóe mắt bà rưng rưng nhưng trên môi là một nụ cười mãn nguyện. Bà không bất ngờ, cũng không hỏi cậu giàu sang ra sao, chỉ thều thào: “Về là tốt rồi… Cơm vẫn chừa phần con…”
Lúc ấy tôi mới hiểu, lòng tốt của mẹ chưa bao giờ đặt nhầm chỗ. Mẹ không nuôi một đứa trẻ để đổi lấy một cục tiền khi về già, mẹ nuôi một con người bằng cả trái tim. Và quả ngọt mà mẹ nhận được hôm nay, chính là sự tử tế đã được nhân lên gấp bội.