Nhà nghèo nhưng quyết đưa cháu ruột về nuôi vì anh chị qu;a đ;ời đột ngột, nhiều năm sau cháu đi học đại học không về nữa, tôi trách thằng bé v;ô ơn.. Đến khi vợ tôi bị b;ênh nặng thì mọi chuyện được vỡ lẽ!
Nhà nghèo nhưng quyết đưa cháu ruột về nuôi vì anh chị qu;a đ;ời đột ngột, nhiều năm sau cháu đi học đại học không về nữa, tôi trách thằng bé v;ô ơn.. Đến khi vợ tôi bị b;ênh nặng thì mọi chuyện được vỡ lẽ!
Cuộc sống vốn đã chật vật, đến bữa cơm còn phải tính toán từng đồng. Thế rồi tai họa ập đến: anh trai và chị dâu tôi mất trong một vụ tai nạn giao thông thảm khốc, bỏ lại đứa con trai mười tuổi bơ vơ.
Ngày tôi đón cháu về, vợ khóc rấm rứt rồi nổi giận:
“Nhà mình còn chẳng đủ ăn, ông rước thêm một đứa về, định cho cả nhà chết đói à?”
Tôi hiểu sự lo lắng của vợ, nhưng không nỡ để cháu phải trôi dạt. Tôi chỉ nhẹ nhàng đáp:
“Dù sao nó cũng là máu mủ, anh chị gửi gắm lại. Mình cố thêm một chút…”
Vợ tôi im lặng, ánh mắt đầy bất mãn.
Những năm sau đó, tôi nai lưng làm thuê khắp nơi. Ban ngày ngoài đồng, ban đêm tôi đi phụ hồ, ai thuê gì làm nấy, miễn sao có tiền nuôi bốn đứa nhỏ.
Thằng cháu từ nhỏ đã sáng dạ, học hành chăm chỉ. Ngày nó đỗ trường Y ở Hà Nội, cả làng ai cũng khen. Vợ tôi lại thở dài, so sánh với ba đứa con: đứa lớn học xong cấp 3 thì đi làm công nhân, hai đứa sau chỉ làng nhàng học hành.

Từ khi cháu ra Hà Nội, ba năm liền nó không về thăm. Vợ tôi tức giận, mắng:
“Nuôi cho nó ăn học tử tế, giờ có chút chữ nghĩa thì quên hết, đúng là vô ơn!”
Tôi chỉ biết im lặng trước những lời cằn nhằn của vợ. Nghĩ đến đứa cháu mình từng yêu thương, bảo bọc, lòng tôi không khỏi dấy lên một nỗi xót xa pha lẫn thất vọng. Mỗi dịp Tết đến xuân về, nhìn nhà người ta sum vầy, còn nhà mình thì chiếc giường của thằng cháu vẫn lạnh tanh, tôi lại thở dài, tự hỏi: “Chẳng lẽ cuộc sống phồn hoa nơi phố thị đã làm lu mờ đi tình cốt nhục?”
Thế rồi, biến cố lớn lại một lần nữa giáng xuống gia đình tôi.
Vợ tôi đột ngột ngất xỉu ngay giữa sân. Đưa vào bệnh viện tỉnh cấp cứu, bác sĩ làm xét nghiệm rồi ái ngại thông báo bà ấy bị suy thận giai đoạn cuối, cần phải chạy thận định kỳ và chuẩn bị một khoản chi phí cực kỳ lớn để tìm nguồn ghép thận nếu muốn kéo dài sự sống.
Nhìn vợ nằm trên giường bệnh, người gầy rộc đi, hơi thở thoi thóp, tôi như sụp đổ hoàn toàn. Ba đứa con tôi gom góp tất cả tiền lương công nhân, tiền làm thêm cũng chỉ như muối bỏ bể trước hóa đơn viện phí mỗi ngày một dày lên. Tôi chạy vạy khắp nơi, vay mượn từ họ hàng đến làng xóm nhưng ai cũng nghèo, số tiền chẳng thấm vào đâu.
Giữa lúc tuyệt vọng nhất, một vị bác sĩ trẻ, gương mặt che kín sau chiếc khẩu trang y tế, bước vào phòng bệnh. Cậu ấy nhìn lướt qua hồ sơ bệnh án rồi bảo tôi đi theo vào phòng làm việc riêng.
Vừa bước qua cánh cửa, vị bác sĩ ấy liền cởi bỏ chiếc khẩu trang.
Tôi chết lặng. Toàn thân run rẩy, hai mắt nhòe đi.
– Hùng… là cháu phải không con?
Thằng cháu vô ơn mà vợ chồng tôi từng trách móc suốt ba năm qua, giờ đang đứng ngay trước mặt tôi trong bộ áo blouse trắng. Nó không hề gầy gò như ngày xưa, nhưng đôi mắt hằn rõ những quầng thâm vì thiếu ngủ và sự mệt mỏi.
Hùng quỳ sụp xuống, ôm lấy đầu gối tôi mà khóc: – Chú ơi, cháu xin lỗi… Cháu bất hiếu, cháu không về thăm chú thím được…
Hóa ra, sự thật đằng sau ba năm “vô ơn” của cháu tôi là một chuỗi những ngày tháng cơ cực đến xé lòng mà nó cố tình giấu kín.
Ngày ra Hà Nội, Hùng biết tiền học phí trường Y vô cùng đắt đỏ, biết chú thím ở quê đã kiệt quệ vì nuôi bốn đứa con. Nó quyết định không xin một đồng học phí nào từ gia đình. Để có tiền trang trải, ngoài giờ học trên lớp, Hùng quay cuồng với đủ mọi công việc: từ gia sư, bốc vác ban đêm ở chợ đầu mối, đến chân sai vặt ở bệnh viện.
Nó không dám về quê vì mỗi chuyến xe đi về mất cả vài trăm nghìn – số tiền đó đủ cho nó ăn cả tuần lễ. Hơn nữa, nó phải tận dụng những ngày nghỉ lễ để cày cuốc làm thêm gấp đôi ngày thường. Nó gom góp từng đồng, một phần để tự lo cho bản thân, một phần lớn hơn là âm thầm gửi vào một cuốn sổ tiết kiệm mà nó nhờ người bạn thân đứng tên.
Hùng nghẹn ngào mở ngăn kéo, đặt vào tay tôi một cuốn sổ tiết kiệm và một xấp hóa đơn: – Chú ơi, đây là số tiền cháu làm lụng tích góp ba năm qua, cộng với tiền học bổng toàn phần cháu vừa nhận được. Cháu định ra trường sẽ mang về cho chú thím dưỡng già… Toàn bộ chi phí điều trị và tiền tạm ứng phẫu thuật của thím, cháu đã đóng đủ hết rồi. Chú đừng lo lắng nữa.
Nó quẹt nước mắt, nói tiếp: – Cháu cũng đã làm xét nghiệm sàng lọc rồi chú ạ. Chỉ số của cháu và thím tương thích rất cao. Cháu sẽ hiến một quả thận cho thím. Ngày xưa thím cằn nhằn vì sợ cháu làm cả nhà chết đói, nhưng chưa bao giờ thím để bát cơm của cháu ít hơn các em. Mạng sống này của cháu là do chú thím ban cho, giờ là lúc cháu trả lại ơn nghĩa ấy.
Tôi đứng trơ trọi giữa phòng làm việc, nước mắt tuôn rơi như mưa. Hóa ra, đứa cháu mà chúng tôi trách là “có chút chữ nghĩa thì quên gốc gác” lại chưa từng một ngày quên đi ơn nuôi dưỡng. Nó đã âm thầm chịu đựng sự cô đơn, đói khát và kiệt sức nơi đất khách quê người, chỉ để ngày trở về có thể là một chỗ dựa vững chắc cho gia đình tôi.
Tôi dắt Hùng vào phòng bệnh. Khi nghe tôi kể lại toàn bộ sự thật, vợ tôi ôm lấy cháu, khóc nấc lên thành tiếng. Bà vừa khóc vừa đánh nhẹ vào vai nó: “Thằng bố tổ này… sao cháu dại thế… thím mang tiếng ác bấy lâu nay, sao cháu lại hy sinh vì thím như vậy…”
Hùng chỉ mỉm cười, nắm chặt lấy tay hai chúng tôi.
Hóa ra, lòng tốt và tình yêu thương chân thành sẽ không bao giờ bị phản bội. Hạt mầm nhân ái mà tôi cố chấp gieo xuống năm mươi tuổi ấy, giờ đây đã lớn khôn thành một cây cổ thụ vững chãi, che chở cho gia đình tôi vượt qua giông bão cuộc đời.