Ông nội cho chú út 1 căn nhà và 2 mảnh đất, trong khi bố tôi là con cùng cha khác mẹ lại chẳng được một chút gì. Ngày ông mất bố tôi đến thắp hương cho ông thì chút út n//ém cho cái ba lô cũ: “Bố cho anh đấy” rồi cười lớn. Bố tôi lẳng lặng ôm cái balo về, tối mở ra thì cả nhà haihung khi thấy…
Ông nội cho chú út 1 căn nhà và 2 mảnh đất, trong khi bố tôi là con cùng cha khác mẹ lại chẳng được một chút gì. Ngày ông mất bố tôi đến thắp hương cho ông thì chút út n//ém cho cái ba lô cũ: “Bố cho anh đấy” rồi cười lớn. Bố tôi lẳng lặng ôm cái balo về, tối mở ra thì cả nhà haihung khi thấy…
Năm chú út lấy vợ, ông nội cắt một mảnh đất mặt đường và xây tặng chú căn nhà hai tầng khang trang nhất vùng, kèm theo hai mảnh đất vườn màu mỡ. Trong khi đó, gia đình tôi bốn miệng ăn vẫn chen chúc trong căn nhà lá lụp xụp ven đê, mỗi mùa mưa về là cả nhà lại thức trắng đêm để hứng nước dột.
Ông nội giàu có, sở hữu căn biệt thự 5 tầng nguy nga nhất phố huyện, nhưng chưa bao giờ ông bước chân qua cửa nhà tôi. Ngày chị em tôi thiếu tiền đóng học, mẹ đánh bạo sang hỏi vay, ông chỉ lạnh lùng bảo: “Tiền tao để lo cho tương lai của chú út, tụi mày tự làm tự ăn”.
Nghèo khó là thế, nhưng bố tôi chưa bao giờ một lời oán trách. Ông vốn tính lầm lì, chỉ biết làm lụng. Bố có cái nghề chài lưới trên sông. Mỗi lần may mắn kéo được con cá trắm to hay con cá lăng quý, mẹ mừng rỡ bảo: “Cái này mang ra chợ bán cũng đủ tiền gạo cho mấy đứ/a nh/ỏ cả tuần, anh để em mang đi nha”.
Nhưng bố nhất định không chịu. Ông lặng lẽ làm sạch cá, gói ghém cẩn thận rồi đạp chiếc xe cà tàng mang sang biếu nội. Đáp lại lòng thành của bố, chưa bao giờ nội mời bố lấy một chén trà tử tế.
Mùa đông năm nay lạnh hơn mọi năm, ông nội đổ bệ//nh rồi qua đời đột ngột. Ngày ta/ng lễ, nhà chú út thuê dàn kèn trống rình rang, người xe tấp nập. Gia đình tôi chỉ lặng lẽ lo việc hậu cần, ai sai gì làm nấy, không một lời tranh giành.
Ngày mãn ta/ng, khi con cháu tề tựu đông đủ để nghe về phân chia tài sản, chú út hất hàm nhìn bố tôi – lúc này vẫn mặc bộ quần áo lao động sờn cũ, đứng nép mình ở góc sân. Chú cười lớn, một điệu cười đầy vẻ đắc thắng và khi/nh m/iệt:
“À, suýt nữa thì em quên. Lúc lâm chung bố có dặn lại, anh cả tuy chẳng giúp được gì cho dòng tộc nhưng cũng là m/áu m/ủ. Đây, bố cho anh cái này làm kỷ niệm!”
Nói rồi, chú v/ứt cái ba lô vải cũ rích, sờn rách và bám đầy bụi bặm xuống nền gạch, ngay sát chân bố. Đám con cháu nhà chú út cười rộ lên: “Đấy, ông công bằng thế còn gì, đúng là người nào đồ nấy!”… Bố tôi chẳng nói nửa lời, cúi xuống nhặt cái ba lô cũ, ôm chặt vào lòng như ôm một báu vật rồi lẳng lặng dắt xe ra về..

…Tối hôm đó, căn nhà lá ven đê im ắng lạ thường. Ngọn đèn dầu leo lét hắt bóng bố tôi lên vách nứa gầy guộc. Ông đặt cái ba lô cũ xuống chiếc bàn gỗ ọp ẹp, chậm rãi lau từng lớp bụi như sợ làm đau một thứ gì rất mong manh bên trong.
Mẹ tôi thở dài, không giấu nổi tủi thân:
– Thôi ông ạ… coi như số mình vậy. Ông nội có thương ai thì cũng đã yên phần người đó rồi…
Bố tôi không đáp. Ông chỉ lẳng lặng mở khóa ba lô.
Một mùi giấy cũ và da thuộc xộc ra. Bên trong không phải quần áo rách như mọi người nghĩ, mà là một tập giấy tờ được bọc kín trong túi nilon, ngay ngắn đến lạ.
Tôi còn nhớ như in khoảnh khắc ấy.
Bố run run lấy ra một cuốn sổ đỏ cũ đã ngả màu, tiếp theo là một xấp giấy viết tay, góc giấy có nét chữ quen thuộc của ông nội.
Mẹ tôi chết lặng.
Tôi thì sững sờ đến mức không thở nổi.
Dưới đáy ba lô còn có một cuốn sổ tiết kiệm mở từ hơn hai mươi năm trước, số tiền không nhiều, nhưng đủ để một gia đình nghèo sống tử tế qua vài năm khó khăn.
Bố tôi ngồi phịch xuống ghế. Đôi bàn tay chai sạn khẽ run lên khi mở tờ giấy viết tay. Nét chữ run rẩy nhưng nắn nót:
“Tao biết tao nợ mày cả một đời.
Mày là con tao, nhưng mang cái danh ‘khác mẹ’, tao hèn nên không dám công khai, cũng không dám bênh vực.
Những gì tao cho chú út là để che mắt thiên hạ.
Còn cái này… là phần tao giấu cho mày.
Đất không nhiều, tiền không lớn, nhưng là sạch sẽ.
Nếu có kiếp sau, tao xin làm trâu ngựa trả nợ cho mày.”
Mẹ tôi bật khóc nức nở.
Còn bố tôi… người đàn ông cả đời chưa từng rơi một giọt nước mắt… lúc ấy gục mặt xuống hai bàn tay, khóc như một đứa trẻ.
Hóa ra, mảnh đất ven sông nơi nhà chú út vẫn ngang nhiên trồng hoa màu, một phần căn biệt thự năm tầng đứng tên người khác, đều đã được ông nội âm thầm sang tên cho bố tôi từ nhiều năm trước – nhưng giấu kín trong chiếc ba lô ấy, gửi ở ngân hàng, không một ai hay biết.
Chú út có nhà đẹp, đất rộng…
Nhưng chỉ là đứng tên tạm thời.
Một tuần sau, khi bố tôi mang giấy tờ ra chính quyền làm thủ tục pháp lý, cả nhà chú út mới tá hỏa.
Chú chạy sang, mặt tái mét, gào lên giữa sân:
– Không thể nào! Bố thiên vị anh à?!
Bố tôi chỉ nhìn chú, giọng bình thản đến lạ:
– Không. Bố chỉ trả lại những gì ông nợ anh.
Chú út cười gằn, định gây chuyện, nhưng pháp luật không đứng về phía kẻ cười trên nỗi đau người khác.
Vài tháng sau, gia đình tôi dọn khỏi căn nhà lá ven đê. Không xây nhà to, không phô trương. Bố chỉ dựng một căn nhà cấp bốn vững chãi, đủ che mưa che nắng.
Còn chiếc ba lô cũ…
Bố tôi giặt sạch, vá lại quai đeo, treo cẩn thận trên vách nhà.
Ông bảo:
– Đây không phải đồ bỏ đi. Đây là cả một đời nhẫn nhịn… cuối cùng cũng được gọi tên.
Từ đó tôi mới hiểu:
Có những yêu thương không ồn ào, không công khai… nhưng đến lúc cần, nó đủ sức lật ngược cả sự khinh miệt của một đời người.