Cha từ Hưng Yên lên Hà Nội thăm tôi, bị đuổi khỏi cổng cơ quan trong ở Hà Nội — một giờ sau, cuộc gọi từ quê khiến tôi g–ào kh–óc q–uỵ ng–ã…

Cha từ Hưng Yên lên Hà Nội thăm tôi, bị đuổi khỏi cổng cơ quan trong ở Hà Nội — một giờ sau, cuộc gọi từ quê khiến tôi g–ào kh–óc q–uỵ ng–ã…

Nhà tôi tôi ở Hưng Yên. Cả đời cha tôi chỉ biết đến ruộng đồng, con trâu và cánh đồng lúa. Nhà nghèo, tài sản lớn nhất chỉ có con trâu đực, ông vẫn gọi vui là “bạn cày chung thân”.

Học xong, lên Hà Nội đi làm, cha mừng lắm. Ông bảo:“Cha mà được ra ngoài đó thăm con một bữa là mãn nguyện rồi.”

Thế mà.Giữa bộn bề thành phố, tôi dần quên mất người cha g-ầy g-ò ấy.

Một hôm, cha gọi:

“Cuối tuần cha lên thăm con. Cha nhớ con lắm.”
Tôi ậm ừ, nghĩ ông nói cho vui. Nhưng hôm đó, thật, ông ra.

Bán con trâu cuối cùng trong nhà để lấy tiền đi xe, mang theo túi vải đựng mấy củ khoai luộc, ít lạc rang, với lọ tương quê mẹ làm.

Hôm ấy mưa. Tôi đang họp thì bảo vệ gọi:

“Có ông cụ nói là cha anh, đang chờ dưới cổng.”
Tôi s-ững lại. Nhìn xuống sân, thấy dáng người l-om kh-om trong chiếc áo nâu bạc màu, đầu đội mũ cối cũ, tay cầm túi quà ư-ớt s-ũng nước mưa. Đồng nghiệp nhìn ra, x-ì x-ào:

“Bố ai trông như ông nông dân phim cũ thế kia?”

Mặt tôi n-óng b-ừng. Tôi chạy ra, kéo cha vào một góc:

“Bố ra làm gì? Ở quê yên thì không ở!”

Cha cười hiền, chìa ra túi quà:

“Cha mang ít lạc, ít khoai, với lọ tương mẹ con gửi. Biết con hay quên ăn cơm.”

Tôi nhìn quanh, thấy đồng nghiệp liếc, lòng tràn x-ấu h-ổ.

Tôi hất tay ông:

“Thôi, bố về đi! Ở đây người ta nhìn vào cười ch-eet!”
Ánh mắt cha s-ững lại. Bàn tay gầy khựng giữa không trung, rồi rụt lại.

“Ờ… cha chỉ định nhìn con một cái, rồi về thôi.”
Ông quay lưng đi trong mưa. Đôi dép cao su l-ép nh-ép giữa vũng nước.

Tối đó, tôi nhận được cuộc gọi từ số lạ, giọng một người phụ xe Hưng Yên r-un r-un:

“Anh có phải con ông Đình không…..

Tối đó, tôi nhận được cuộc gọi từ số lạ, giọng một người phụ xe run run:

“Anh có phải con ông Đình ở Hưng Yên không? Ông… ông ngất trên xe rồi. Chúng tôi đưa ông vào trạm y tế, mà… hình như không kịp đâu anh ạ.”

Tôi chết lặng. Cả người lạnh toát.
Chiếc điện thoại rơi xuống sàn, tiếng vỡ nghe như tim tôi nứt làm đôi.

Một giờ sau, tôi có mặt ở bệnh viện huyện. Trên chiếc giường nhỏ, cha tôi nằm đó — khuôn mặt vẫn còn dính vài giọt mưa chưa khô.
Trên tay ông, vẫn nắm chặt cái túi vải cũ. Tôi mở ra: mấy củ khoai đã nát, túi lạc ướt, và lọ tương quê mẹ làm vẫn còn nguyên, nắp xoắn chặt, chưa kịp trao cho tôi.

Bên cạnh là tờ giấy nhăn nhúm, nét chữ nguệch ngoạc:

“Định để lại ít tiền cho con, sợ con vất vả. Cha chỉ mong con sống tử tế, không quên quê mình.”

Tôi q–uỵ ng–ã bên giường, g–ào kh–óc như một đứa trẻ.
Tiếng khóc vang trong căn phòng nhỏ, hòa cùng tiếng mưa rơi ngoài hiên — từng giọt như cứa vào tim.

Ngày đưa cha về, cả làng ra tiễn. Ai cũng lặng người khi nghe chuyện.
Người bảo vệ ở cơ quan tôi, khi biết tin, chỉ thở dài:

“Hôm ấy ông đứng mãi ở cổng, mưa ướt hết mà vẫn cười. Ông bảo: ‘Đợi con tôi họp xong, cha con còn kịp ăn miếng khoai cùng nhau.’”

Tôi đứng bên quan tài, nhìn khuôn mặt gầy guộc của cha lần cuối.
Tự hỏi — tại sao mình lại để lòng tự trọng hão che lấp tình yêu lớn nhất đời mình?

Tôi xin nghỉ việc, về quê.
Mảnh ruộng cũ, cái chuồng trâu bỏ không, căn nhà lợp ngói cũ kỹ… tất cả đều im lặng như trách móc.
Tôi trồng lại luống rau, nuôi lại con trâu, làm lại từ đầu — như cách cha đã từng.

Mỗi sáng, tôi thắp cho ông nén nhang, khẽ nói:

“Cha ơi, con về rồi. Giờ con mới hiểu, con đã đi quá xa.”

Khói hương bay lên, quẩn quanh mái nhà.
Giữa bầu trời trong vắt của quê, tôi thấy như có bóng người đàn ông trong chiếc áo nâu bạc, mỉm cười hiền lành, tay vẫn cầm túi lạc và lọ tương…
Lặng lẽ bước đi giữa đồng, phía hoàng hôn.